Ba con số quyết định
Chiều cao bàn = Chiều cao ghế + Độ chênh bàn-ghế

1. Gót chân → khoeo chân — quyết định chiều cao ghế
2. Vai → cùi chỏ — quyết định độ chênh bàn-ghế
Bảng tham chiếu độ chênh theo chiều cao bé
|
Chiều cao bé
|
|
|
~100–130cm
|
20–22cm
|
|
~130–150cm
|
22–25cm
|
|
~150–160cm trở lên
|
25–30cm (chuẩn người lớn)
|
Một lưu ý nhỏ
Kết
Câu hỏi thường gặp
Nên chọn theo chiều cao và số đo cơ thể của trẻ, không theo lớp. Hai đứa trẻ cùng học lớp 1 có thể chênh nhau cả chục centimet. Nếu chọn theo lớp, một bé có thể ngồi vừa, còn bé kia ngồi sai từ ngày đầu: lưng cong, vai gồng, chân lơ lửng.
Có ba con số:
Chiều cao ghế: để chân trẻ chạm sàn, không lơ lửng.
Độ chênh bàn–ghế: để tay trẻ đặt lên bàn thoải mái, không gồng, không cúi.
Chiều cao bàn: bằng chiều cao ghế cộng độ chênh.
Ba số này luôn đi cùng nhau. Sai một số thì phải tính lại hai số còn lại cho khớp.
Cho trẻ ngồi thẳng lưng trên một mặt phẳng, chân thả tự nhiên. Dùng thước dây đo từ gót chân lên đến mặt sau đầu gối (khoeo chân). Con số đó là chiều cao ghế lý tưởng.
Nếu ghế quá cao, chân trẻ lơ lửng và lưng phải gồng để giữ thăng bằng.
Nếu ghế quá thấp, đầu gối bị đẩy lên cao, máu lưu thông kém, dễ tê chân.
Cho trẻ ngồi thẳng lưng, tay thả tự nhiên. Đo từ đỉnh vai đến khuỷu tay (cùi chỏ). Con số đó là độ chênh lý tưởng giữa mặt ghế và mặt bàn.
Nếu độ chênh quá lớn, vai trẻ phải nhô lên để với tới mặt bàn, gây mỏi cổ và vai.
Nếu độ chênh quá nhỏ, trẻ phải cúi người xuống để viết, dễ cong lưng và cận thị.
Phương Viên dùng bảng tham chiếu theo chiều cao, không theo lớp:
| Chiều cao trẻ | Độ chênh bàn–ghế |
|---|---|
| ~100–130cm | 20–22cm |
| ~130–150cm | 22–25cm |
| ~150–160cm trở lên | 25–30cm (chuẩn người lớn) |
Ví dụ: bé cao 120cm cần độ chênh 20–22cm. Nếu ghế cao 30cm, bàn cần cao khoảng 50–52cm.
Chưa chắc. Nếu thấy con ngồi cong lưng, chân không chạm sàn hoặc vai gồng lên, hãy đo lại ba số trước. Nhiều trường hợp chỉ cần thay ghế hoặc kê thêm bục chân là đủ. Nếu bàn không đổi được thì tính lại chiều cao ghế. Nếu ghế không đổi được thì tính lại phần cần kê thêm hoặc bớt đi.
Vì bảng đó tính cho bàn ghế lớp học, không tính cho bàn ghế ở nhà. Thông tư 26/2011 chia bàn ghế theo 6 nhóm chiều cao học sinh. Trong lớp học, bàn ghế cố định và dùng chung cho khoảng 40 em, nên sai số vài centimet giữa các em cùng nhóm là chấp nhận được. Ở nhà, chỉ một đứa trẻ ngồi bàn đó mỗi ngày, nên vài centimet sai số là chân lơ lửng thật, vai gồng thật. Vì vậy, Phương Viên tham khảo TCVN 7490:2005 và Thông tư 26/2011, nhưng khi trẻ rơi vào giữa hai nhóm hoặc cao vượt chuẩn của nhóm, sẽ tính lại theo đúng ba số đo của trẻ.

English